Xin chào.
베트남어를 배우기 시작했다.

Bắt đầu học tiếng Việt

by 정상환


‘Xin chào.’(신 차오)

베트남어 교재를 펼칩니다.

커피 향기와 함께 알파벳 위에 낯선 점과 곡선이 춤을 추며,

베트남의 온도와 풍경이 스칩니다.


베트남어를 독학으로 공부하기 시작했습니다.

인터넷에는 베트남 샘, 한국 샘의 동영상 강의가 수두룩 하더군요.

그만큼 배우려는 사람들이 많다는 것일 테고, 그만큼 한베 교류가 활발하다는 거겠죠.


그렇다고 뭐 대단한 결심이나 계기가 있었던 건 아닙니다.

단지 영어는 여태껏 공부했어도 '생존 영어'에서 진척이 없고,

일본어나 중국어는 지금 해봐야 주목받지 못할 것 같아서입니다.

내심 관종(?) 성향이 발동한 거죠.

"베트남어도 해?!"

사람들의 의아한 시선을 즐기려 한 것입니다.


그래서 조금 독특한 방향을 택한 거죠.
큰맘 먹지 않아도 훌쩍 떠날 수 있어 일 년에 한두 번은 찾는 나라,

지갑은 얇아도 두텁게 채워 넣을 수 있는 즐거움이 있고, 마주치는 미소가 따듯한 곳,

그곳의 언어를 조금이나마 알아듣는다면, 여행이 더 깊어질 것 같았습니다.

덧붙여 나의 강의실 베트남 친구들과 짧은 대화지만 그들의 말로 정다움을 나누고 싶었기 때문입니다.


기회가 된다면 호찌민이나 하노이의 대학 어학당에서 공부하고 싶다는 생각도 있습니다.
세계에서 온 젊은이들과 캠퍼스에서 “Chào em”(안녕)하며 커피 한 잔 나눈다면, 멋질 것 같지 않나요?

지나간 젊은 날의 낭만도 되살릴 수 있을 것 같기도 합니다.


마음이 통하려면 말이 통해야 합니다.
몸짓으로도, 번역기로도 의미는 통한다 해도 감정은 반박자 늦을 수밖에 없죠.

사랑한다는 말을 번역기로 전한다면 그 감도는 상당히 떨어질 겁니다.

배달 음식이, 아무래도 식당에서 먹는 것보다 덜 맛있는 것과 같은 이유겠죠.


그러나 아직 너무 성급한 생각입니다.

시작한 지 얼마 되지도 않았고, 말 꺼내기도 쑥스러울 만큼 겨우 인사말과 숫자를 세고 있기 때문입니다.


베트남어 배우기는 결코 만만치 않더군요.

아시다시피 베트남어는 여섯 개의 성조가 있습니다.
조금만 잘못 올려도, 내려도 뜻이 확 바뀌죠.
‘ma’는 유령이지만, 올리면 ‘어머니’, 짧게 끊으면 ‘말(馬)’이 됩니다.
그러니 베트남어는 6 계음의 노래이자 퍼포먼스입니다.

멜로디가 있는 언어죠.


물론 쉽지 않을 거라는 건 이미 알고 있습니다.

그래서 애초부터 유창하게 말하는 건 접었죠.

통역사가 되거나, 비즈니스를 할 것도 아닌데요. 뭐...


다만 ‘안녕하세요’, ‘맛있어요’, ‘얼마예요’ 등등...

한 백 마디 정도만 할 수 있었으면 합니다.

발음이나, 성조도 어설프겠지만 '바담 풍해도 바람 풍'으로 알아들을 배려를 기대할 뿐입니다.


언어를 배우는 건 다른 사람의 마음을 배우는 일이라 합니다.

비록 짧은 한마디일지라도 나의 마음이 따듯하게 전해졌으면 합니다.


"Cảm ơn" (감사합니다)


언어는 역사와 문화, 사람들의 삶을 투영합니다.


베트남어에는 중국 문화의 흔적이 깊게 남아 있습니다.
많은 어휘가 한자어이며, 상대방의 나이·관계·지위에 따라 호칭이 달라지는
섬세한 존칭 체계도 있습니다.
사람 사이의 거리를 조심스레 헤아리는 태도가 언어 속에 자연스럽게 녹아 있죠.

우리가 정서적으로 가깝게 느끼는 이유이기도 합니다.


17세기 프랑스 신부 '알렉산드르 드 로드'가
선교를 위해 베트남 어를 음차해 라틴문자로 표기한 것이
바로 오늘의 베트남의 문자, 국어 '꾸옥응으(Quốc ngữ)'입니다.


프랑스 식민지 시절, 행정·교육에서 '꾸옥응으' 사용이 강제되었고,

1945년 독립 후 호찌민 정부가 국가 공식 문자로 확정했습니다.


베트남의 문맹률은 현재 약 3% 내외로, 전체 문해율은 97% 이상입니다.

즉, 대부분의 국민이 읽고 쓸 수 있어 거의 완전한 문해율을 보입니다.

식민지의 그늘 속에서 태어난 이 문자는 오히려 베트남을 빠르게 근대화시켰고

문맹률을 크게 낮추는데 기여했습니다.


베트남 문자의 탄생은 어쩌면 식민시대의 유산으로 배격의 대상이 되었을 수도 있었을 겁니다.

그러나 1945년 독립 후 호찌민 정권은 국가 언어로 공식채택하여

국가 발전, 통합의 도구로 적극활용하였습니다.

이는 단순한 정치적·문화적 배척이 아니라,

문해율 향상·행정 효율·국민 통합이라는 실용적 필요에 따른 선택이었습니다.

즉 지배의 문자를 통합의 문자로 치환한 것입니다.


반면 한국은 일제강점기의 잔재를 주로 ‘친일 프레임’이라는 도덕적·정치적 잣대로 규정하며,

과거 청산과 정의 구현에 집중해 왔죠.

베트남의 접근은 과거를 실용적 자산으로 전환해 미래 지향적 발전을 도모한 사례라면,

한국의 접근은 과거를 규정하고 심판하는 방식으로 사회적 정의를 강조한 사례라 할 수 있습니다.


결국 시사하는 바는 어떻게 역사를 마주 하느냐의 문제입니다.


아픈 역사를 단순히 배척하거나 미화하는 이분법을 넘어, 각 사회가 처한 역사적 조건과 미래적 과제를 고려하여 어떻게 활용할 것인가를 고민하는 것이 중요할 것입니다.


언어를 배우는 건 그 공동체의 울고 웃음을 공감하려는 겁니다.

그리고 미래를 함께 걸어가겠다는 표현일 것입니다.

언젠가 베트남의 어느 골목에서 내가 서툴게 건넨

“Xin chào” 한마디가 누군가에게 미소로 다가갔으면 좋겠습니다.



베트남 독자를 위한 AI 번역입니다.

Bản dịch AI dành cho độc giả Việt Nam.


Xin chào. Bắt đầu học tiếng Việt


“Xin chào.”

Tôi mở giáo trình tiếng Việt.

Trong hương cà phê, những dấu chấm và đường cong lạ lẫm trên chữ cái nhảy múa,
gợi lên nhiệt độ và phong cảnh của Việt Nam.

Tôi bắt đầu tự học tiếng Việt.

Trên internet có vô số video bài giảng của giáo viên Việt Nam và giáo viên Hàn Quốc.
Điều đó cho thấy có nhiều người muốn học, và cũng chứng tỏ giao lưu Hàn – Việt rất sôi động.

Thực ra không có quyết tâm hay lý do lớn lao nào.

Tiếng Anh tôi đã học lâu nhưng vẫn chỉ dừng ở mức “tiếng Anh sinh tồn”.
Tiếng Nhật hay tiếng Trung bây giờ học cũng khó gây chú ý.

Có lẽ bản tính thích khác biệt trong tôi trỗi dậy.
“Cả tiếng Việt cũng học à?!”
Tôi muốn tận hưởng ánh mắt ngạc nhiên của mọi người.

Vì thế tôi chọn một hướng đi hơi đặc biệt.
Một đất nước có thể dễ dàng đến một – hai lần mỗi năm mà không cần chuẩn bị lớn.
Nơi chiếc ví mỏng vẫn có thể chứa đầy niềm vui,
nơi những nụ cười gặp gỡ luôn ấm áp.

Nếu hiểu được đôi chút ngôn ngữ nơi đó, chuyến đi sẽ sâu sắc hơn.
Thêm nữa, tôi muốn trò chuyện ngắn với những người bạn Việt Nam trong lớp học bằng chính ngôn ngữ của họ.

Nếu có cơ hội, tôi muốn học tại trường ngoại ngữ của một đại học ở Hồ Chí Minh hay Hà Nội.
Cùng những bạn trẻ từ khắp nơi trên thế giới, ngồi trong khuôn viên trường, nói “Chào em” và uống một tách cà phê – chẳng phải rất tuyệt sao?
Có lẽ còn có thể hồi sinh chút lãng mạn của tuổi trẻ đã qua.

Muốn lòng thông cảm thì lời nói phải thông suốt.
Dù bằng cử chỉ hay máy dịch thì ý nghĩa có thể truyền đạt, nhưng cảm xúc luôn chậm nửa nhịp.

Nếu nói “Anh yêu em” qua máy dịch, cảm xúc chắc chắn giảm đi nhiều.
Giống như đồ ăn giao tận nơi không bao giờ ngon bằng ăn tại quán.

Nhưng đó vẫn là suy nghĩ hơi vội vàng.
Tôi mới bắt đầu, chỉ đủ nói lời chào và đếm số, còn ngại ngùng khi mở miệng.

Học tiếng Việt không hề dễ dàng.

Như bạn biết, tiếng Việt có sáu thanh điệu.
Chỉ cần lên xuống sai một chút là nghĩa thay đổi hẳn.
“ma” là ma quỷ, nhưng lên giọng thì thành “mẹ”, ngắt ngắn thì thành “ngựa”.
Vậy nên tiếng Việt là bài hát sáu âm, là một màn trình diễn.
Một ngôn ngữ có giai điệu.

Tôi biết sẽ không dễ.
Ngay từ đầu tôi đã bỏ ý định nói trôi chảy.
Tôi đâu định làm phiên dịch hay kinh doanh.

Chỉ mong nói được khoảng một trăm câu đơn giản:
“Xin chào”, “Ngon quá”, “Bao nhiêu tiền”…

Phát âm và thanh điệu có thể vụng về, nhưng hy vọng người nghe sẽ hiểu được tấm lòng.

Người ta nói học ngôn ngữ là học trái tim của người khác.
Dù chỉ một câu ngắn, tôi mong tấm lòng mình được truyền đi ấm áp.

“Cảm ơn.”

Ngôn ngữ phản chiếu lịch sử, văn hóa và cuộc sống con người.

Trong tiếng Việt còn nhiều dấu vết văn hóa Trung Hoa.
Nhiều từ gốc Hán, hệ thống xưng hô tinh tế thay đổi theo tuổi tác, quan hệ, địa vị.
Thái độ cân nhắc khoảng cách giữa người với người được phản ánh tự nhiên trong ngôn ngữ.
Đó cũng là lý do chúng ta cảm thấy gần gũi về mặt tình cảm.

Thế kỷ 17, linh mục Pháp Alexandre de Rhodes
đã phiên âm tiếng Việt bằng chữ Latinh để truyền giáo.
Đó chính là chữ viết ngày nay – quốc ngữ “Quốc ngữ”.

Thời Pháp thuộc, việc dùng “Quốc ngữ” trong hành chính và giáo dục bị bắt buộc.
Sau khi giành độc lập năm 1945, chính phủ Hồ Chí Minh xác định đây là chữ viết chính thức của quốc gia.

Tỷ lệ mù chữ ở Việt Nam hiện nay chỉ khoảng 3%,
tỷ lệ biết chữ trên 97%.
Hầu hết người dân đều đọc viết được – gần như hoàn toàn biết chữ.

Chữ viết sinh ra trong bóng tối thuộc địa ấy lại giúp Việt Nam nhanh chóng hiện đại hóa,
góp phần giảm mạnh tỷ lệ mù chữ.

Sự ra đời của chữ Quốc ngữ có thể đã bị coi là di sản thuộc địa cần loại bỏ.
Nhưng sau độc lập, chính quyền Hồ Chí Minh đã chính thức chọn làm ngôn ngữ quốc gia,
tích cực sử dụng như công cụ phát triển và thống nhất đất nước.

Đó không chỉ là sự loại bỏ chính trị – văn hóa,
mà là lựa chọn thực dụng: nâng cao tỷ lệ biết chữ, hiệu quả hành chính, đoàn kết quốc dân.
Biến chữ viết của kẻ thống trị thành chữ viết của sự thống nhất.

Ngược lại, Hàn Quốc thường quy định di sản thời Nhật thuộc địa bằng khung “thân Nhật”,
tập trung vào thanh toán quá khứ và thực hiện công lý.

Cách tiếp cận của Việt Nam là biến quá khứ thành tài sản thực dụng để phát triển tương lai.
Cách tiếp cận của Hàn Quốc là quy định và phán xét quá khứ để nhấn mạnh công lý xã hội.

Cuối cùng, vấn đề là cách đối diện với lịch sử.

Không chỉ loại bỏ hay tô vẽ lịch sử đau thương,
mà cần cân nhắc điều kiện lịch sử và nhiệm vụ tương lai của mỗi xã hội để biết cách sử dụng.

Học ngôn ngữ là để cảm thông với niềm vui nỗi buồn của cộng đồng đó.
Và cũng là lời hứa cùng bước đi trong tương lai.

Một ngày nào đó, ở một góc phố Việt Nam,
tôi mong lời chào vụng về “Xin chào” của mình
sẽ mang đến một nụ cười cho ai đó.