Để trả lời cho câu hỏi trong rất nhiều thị trường tại sao lại là thị trường Việt Nam thì một trong những câu trả lời mang tính hiện thực nhất mà ai cũng phải thừa nhận đó là sự an toàn trong thể chế xã hội của Việt Nam.
Ở Việt Nam, lãnh đạo nhà nước bao gồm Big 4 là tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ, chủ tịch quốc hội và 12 ủy viên chính trị. Việt Nam là quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản nhưng khác với Trung Quốc là quyền lực không độc chiếm trong tay một người mà chia đều cho nhiều người và mọi quyền quyết định quan trọng của quốc gia đều được theo thể chế lãnh đạo tập thể quyết định. Do đó, những lĩnh vực kinh doanh do nhà nước tiến hành có tính liên tục, không có sự thay đổi phương hướng quốc gia bất ngờ theo bất cứ một người nắm quyền lực nào.
Đồng thời, do Việt Nam là quốc gia theo thể chế xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo theo thể chế trung ương tập quyền mạnh mẽ và phía dưới là đội ngũ cảnh sát, quân nhân mạnh mẽ nên có thể duy trì toàn thể xã hội một cách rất an toàn. Việt Nam khác với các quốc gia Đông Nam Á khác là trật tự trị an rất tốt, do đó dù có đi đâu một mình vào ban đêm cũng hầu như không xảy ra tai nạn gì.
Dù Việt Nam có tới 54 dân tộc anh em nhưng có tới 89% dân số là dân tộc Việt (Kinh), do đó các dân tộc thiểu số có thể thế lực hóa là một con số rất ít ỏi. Đặc biệt, khác với các quốc gia Đông Nam Á khác, thế lực của Hoa kiều Trung Quốc hầu như không có ảnh hưởng ở Việt Nam với con số chỉ chiếm 3% dân số. Với các quốc gia Đông Nam Á khác thì thế lực của Hoa kiều mang tính chất tuyệt đối. Ví dụ như ở Indonesia, 10 doanh nghiệp đứng đầu trong nước đều thuộc quyền sở hữu của Hoa kiều. Ở Malaysia thì Hoa kiều cũng đang mở rộng quyền kinh tế, ở Thái Lan có tới 25% dân số là Hoa kiều. Ở Thái Lan, các chaebol (tập đoàn kinh tế) và highso (viết tắt của high society), đại đa số tầng lớp thượng lưu dều là Hoa kiều. Ở Philippin trong số 100 doanh nghiệp thì có tới 70% doanh nghiệp của doanh nghiệp Hoa kiều và các phú hộ cũng đều là Hoa kiều.
Nghịch thuyết ở đây là với những người Hoa kiều này giúp những nước Đông Nam Á phát triển nhanh về mặt bề ngoài. Vấn đề là sự đáng tiếc trong cái gọi là sự phát triển kinh tế của họ. Ví dụ như những Hoa kiều lựa chọn trước một khu đất đô thị mới và xây dựng một trung tâm thương mại lớn, sử dụng vốn quốc gia để mở đường, kết nối với đường tàu điện ngầm hoặc hình thành nên một vùng phát triển xung quanh đó. Điều này rõ ràng làm cho phát triển toàn bộ đất nước nhưng lại tạo thành một vòng luẩn quẩn tập trung cho các thế lực riêng biệt.
Vào năm 1975, sau khi giành chiến thắng trong cuộc chiến với Mỹ, Việt Nam đã tiến hành cải cách đồng tiền ngay lập tức để lay chuyển sự nắm bắt quyền lực kinh tế của Hoa kiều. Dĩ nhiên sau khi thống nhất hai miền Nam Bắc thì việc thống nhất đồng tiền là điều đương nhiên nhưng việc vét sạch nguồn vốn làm di chuyển tầng ngầm kinh tế của Hoa kiều là việc bắt buộc phải làm. Vào năm 1962, Hàn Quốc cũng đã từng cải cách đồng tiền để giành lại quyền kinh tế của Hoa kiều. Ở điểm này, quả thật hai đất nước thật giống nhau. Không chỉ vậy, trên toàn thế giới, đất nước không chịu ảnh hưởng nhiều của Hoa kiều chỉ có Hàn Quốc và Việt Nam. Đồng thời với biên giới dính liền với Trung Quốc, dù là nước phải cống nạp cho Trung Quốc nhưng Hàn Quốc và Việt Nam vẫn là quốc gia không phụ thuộc lãnh thổ của Trung Quốc.
Vị anh hùng dân tộc – chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi chiến thắng trong kháng chiến chống Pháp, khi tuyên bố độc lập đã cho thấy được biểu tượng dân tộc hòa hợp. Vị trí tự hào giương cao lá cờ đầu tiên của quốc gia đã giành cho 4 người trong đó hai người là người Kinh và hai người còn lại là đại diện của dân tộc thiểu số miền núi để thể hiện nên sự hòa hợp giữa các dân tộc (4 người này cũng bao gồm hai người nam và hai người nữ). Ở Việt Nam không có sự phân biệt lớn trong các dân tộc thiểu số và hiếm có sự mâu thuẫn giữa họ.
Ở nhiều nước ở Đông Nam Á vẫn còn nhiều quốc gia đối xử bạc bẽo với các dân tộc thiểu số gây nên hiện tượng khủng bố và biểu tình phản đối chính phủ. Nơi nghiêm trọng nhất là Philippin. Dạo gần đây ở Myanma đã xảy ra cuộc đại thảm sát người hồi giáo Rohingya, ở Indonesia thì vẫn xảy ra những cuộc khủng bố của các dân tộc thiểu số phản đối chính phủ, yêu cầu ly khai. Hiếm có dân tộc thiểu số bảo thủ giữ nguyên ngôn ngữ của họ như ở Trung Quốc. Ở Việt Nam, dù là dân tộc thiểu số nhưng đều là những chiến hữu trong cuộc chiến với Pháp và Mỹ. Do đó, khác với các nước Đông Nam Á khác, Việt Nam không có hiện tượng khủng bố hay biểu tình phản đối chính phủ, duy trì thể chế mang tính an toàn.
Nhiều thị trường mới nổi đang nhận đươc sự quan tâm như Nigieria, Myanma, Philippin đều do sự mâu thuẫn về tôn giáo mà xảy ra nhiều sự phân chia quyền lực, vận động li khai gây mất ổn định xã hội. Yếu điểm này không có ở thị trường mới nổi Việt Nam. Thêm vào đó, Việt Nam cũng không có những yếu tố mâu thuẫn hay chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Hoa kiều như ở các quốc gia Đông Nam Á khác. Mọi công dân Việt Nam đều học hành chăm chỉ và chỉ cần có một item (ý tưởng) kinh doanh tốt thì việc thành công là chắc chắn.
Ở Malaysia, dù quyền chính trị thuộc về người Malay nhưng quyền kinh tế lại thuộc về Hoa kiều. Thông thường, người Hồi giáo Malay thuộc tầng trung, hạ lưu còn tiêu dùng chủ yếu là dựa vào các Hoa kiều. Tuy nhiên, thể chế xã hội không ổn định đã được duy trì trong những năm gần đây khi những người lao động lương thấp ở Bangladesh và Sri Lanka đã trở thành tầng lớp dưới cùng ở Malaysia.
Từ nhiều năm trước đã rộ lên thị trường nổi tiếng mang tên V.I.P (Việt Nam, Indonesia, Philippin). Tuy nhiên, cá nhân tác giả cho rằng với tính chất quốc gia của Philippin, dù hiện nay có thể đang phát triển nhưng với việc khó hình thành được tầng lớp trung lưu thì về mặt căn bản khả năng phát triển lớn mạnh của Philippin là rất khó. Từ năm 1565, Philippin bị thống trị bởi Tây Ban Nha thì bắt đầu được ghi vào lịch sử thế giới. Từ trước đó, không có bất cứ ghi chép lịch sử nào của người dân bản địa. Philippin không giống với Hàn Quốc và Việt Nam có những vị anh hùng lịch sử làm tâm điểm noi theo và giỏi giang giống như trước đây.
Thêm vào đó, 70% địa phương Philippin có khoảng 82 gia tộc lớn nhỏ từ thời thuộc địa Tây Ban Nha đến nay sống ở các địa phương như những tiểu vương quốc và thay phiên nhau trở thành tổng thống, thống đốc bang, thị trưởng, thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ của Philippin. Philippin là quốc gia liên bang được thành lập bởi các bang tự trị địa phương nên dù họ có dùng súng ám sát thanh tra viên trung ương điều tra những việc làm sai trái của các thống đốc bang thì cũng không có một chế tài nào để xử lý. Khi tranh cử thống đốc bang hay thị trưởng, giữa các gia tộc bản địa của các địa phương thường xảy ra tranh chấp, nơi vận động tranh cử thường xuyên xảy ra các cuộc thảm sát hay khủng bố bằng bom. Cảnh sát địa phương cũng có những phương pháp thực thi pháp luật khác nhau dựa trên việc ủng hộ gia tộc nào nên gây nên rất nhiều tình huống khó xử.
Trong lịch sử của Philippin, vào thời thuộc địa, đã có vài gia tộc Philippin đề nghị với vua Tây Ban Nha xin được trở thành quý tộc Tây Ban Nha nhưng bị từ chối nên đã căm phẫn dấy nên cuộc chiến tranh giành độc lập. Độc lập của Philippin không phải được đạt được nhờ ước vọng của nhân dân mà bởi tính chính thể của tầng lớp thống trị mà tầng lớp thống trị đó cho tới nay vẫn chưa có sự biến đổi do đó khó có thể thấy hy vọng cho đất nước Philippin. Ngoài ra, quyền lực kinh tế của Philippin nằm trong tay và chịu sự lay chuyển của Hoa kiều, sự phân biệt giàu nghèo giữa người dân rất lớn, nhiều người sống ở các khu ổ chuột thì liệu rằng có sự phát triển được hay không? Tổng thống Philippin là Rodrigo Duterte đã ra sắc lệnh mang tính chất phản nhân quyền là cho phép bắn chết những người mua bán ma túy và nhận được sự hoan hô đồng tình từ người dân. Điều này phản ánh được phần nào tình hình của quốc gia Phlippin như thế nào.
Với dân số 250 triệu người, nguồn tài nguyên phong phú nên có nhiều nhận định mang tính tích cực rằng có nhiều khả năng phát triển cho Indonesia. Với đầy đủ những trí lực như vậy thì nhận định đó không hề sai. Tuy nhiên, người ta không biết rằng vẫn còn tới trên 40% dân số Indonesia chưa nhận được sự cung cấp một cách đầy đủ điện, nước sử dụng. Một đất nước rộng lớn với 17,509 đảo, trong đó khoảng 6,000 đảo rải rác khắp nơi nên xảy ra sự thiếu phát triển của giao thông thông tin và khó khăn trong phát triển lưu thông hàng hóa. Đó chính là lí do để nếu chỉ nhìn vào lượng dân số khổng lồ 250 triệu người của Indonesia để phán đoán là chưa đủ.
Theo IMF năm 1997, khủng hoảng kinh tế của Indonesia đã gây nên sự bất bình và làm nổ ra cuộc biểu tình quá khích năm 1998. Khi đó, người dân Indonesia cho rằng vì Hoa kiều chiếm giữ mọi quyền lực kinh tế nên họ đã tiến hành các cuộc chém giết, đốt nhà dã man những người Hoa kiều giàu có. Vào thời điểm đó ở Indonesia, việc thảo luận về vấn đề này ra công luận bị cấm kị tuy nhiên đối với những người Hoa kiều, đây quả thực là một chấn thương tâm lí lớn với họ. Những người Hoa kiều giàu có luôn sợ rằng không biết khi nào thì vấn đề đó có thể trở lại nên để phòng ngừa, họ mở tài khoản tiết kiệm tại ngân hàng ở Singapore và xây nhà ở gần lưu vực sông phía Bắc để có thể lên thuyền chạy trốn ngay bất cứ lúc nào qua Singapore. Đây chính là lí do nguồn vốn to lớn của Hoa kiều không được lưu thông ở thị trường Indonesia.
Mặt khác, với những người không phải Hoa kiều, tức người Indonesia thấy khó có thể thành công trong lĩnh vực kinh tế thì muốn trở thành nhân viên nhà nước. Bởi người Hoa kiều không thể trở thành nhân viên nhà nước hay cảnh sát, quân nhân nên sự cạnh tranh thấp hơn. Tuy đây không phải là luật nhưng việc người Hoa không thể trở thành nhân viên nhà nước là một hiện thực ở Indonesia. Những nhân lực ưu tú thì nhảy vào lĩnh vực kinh doanh mới và những doanh nhân trẻ thì phải khởi nghiệp. Tuy nhiên với cảm giác thất bại bao trùm lên xã hội Indonesia thì việc tìm kiếm dáng vẻ năng động là rất khó. Tuy nhiên dạo gần đây với sự tái nhiệm của tổng thống Joko Widodo, một người có khuynh hướng mở cửa thị trường và thân thiện với người dân nên Indonesia nhận được sự kì vọng lớn. Việc tổng thống Joko Widodo làm thế nào để xoa dịu sự phản bác của quân đội, dẫn dắt kinh tế phát triển là điểm cốt yếu cho tương lai của Indonesia.
Tóm lại, việc cố ý lật lại quá khứ đau lòng của các quốc gia khác chỉ là để khẳng định rằng thể chế của Việt Nam mang tính an toàn và đây là câu trả lời thứ hai cho câu hỏi tại sao lại là thị trường Việt Nam.