고등학생 때 처음으로 제 방이 생겼습니다.
동생과 같은 방을 쓰다가,
조금 넓은 집으로 이사를 하면서
입시생을 위한 배려였죠.
크지도, 특별하지도 않은 방이었습니다.
그래도 그때 제 기분은 마치 성 하나를 얻은 것 같았습니다.
문을 닫으면
그 안에서는 제가 주인이었으니까요.
밤이 되면 라디오 주파수를 돌리며 팝송을 들었습니다.
이글스의 노래도 듣고, 빌리 조엘의 노래도 듣고,
가끔은 프랭크 시나트라의 목소리도 흘러나왔습니다.
노트를 펼쳐 시 비슷한 글도 쓰고,
괜히 세상을 다 아는 것처럼
혼자 이런저런 생각을 적어 내려가기도 했습니다.
물론 부모님은 열심히 공부하는 줄 아셨을 겁니다.
배가 고프면 부엌에서 라면을 몰래 끓여
방으로 가져와 먹기도 했습니다.
라면 냄새가 새어 나갈까
괜히 문틈을 한 번 더 확인하던 기억도 납니다.
그 방은 제게 작은 자유였습니다.
군에 갔을 때도 연대 정훈참모로서 방 하나를 꿰찼습니다.
어떤 날은 그 방이 달콤한 휴식처가 되었고,
어떤 날은 커피 향 나는 작은 다방이 되었고,
어떤 날은 컵라면을 먹는 간이식당이 되기도 했습니다.
지금 생각해 보면 꽤 호사스러운 공간이었습니다.
하지만 전역 후 입사했을 때
제 자리는 완전히 달랐습니다.
신입사원의 자리는 출입문 바로 앞이었습니다.
사람들이 하루 종일 들락날락하는 자리였습니다.
문이 열릴 때마다 문고리가 제 뒷머리를 스치기도 했습니다.
그 자리에서는 졸 수도 없습니다.
대충 일하는 척도 어렵습니다.
사람들이 지나가며 힐끔힐끔 들여다보기 때문이었죠.
가장 불편한 자리였지만,
어쩌면 가장 많은 것을 배우게 해 준 자리이기도 했습니다.
시간이 지나고
일은 많아졌고 책임도 커졌습니다.
그리고 어느 날,
제 이름표가 붙은 방이 생겼습니다.
또래들이 책상 하나를 옮겨 다니며 일할 때
저는 번듯한 방 하나를 갖게 된 겁니다.
솔직히 말하면 꽤 뿌듯했습니다.
조금 우쭐하기도 했습니다.
문을 닫을 수 있는 공간이 있다는 건 생각보다 큰 특권입니다.
잠깐 졸 수도 있고, 친구와 마음 편히 통화할 수도 있고,
커피 한 잔을 여유 있게 마실 수도 있으니까요.
하지만 세상에 거저 주는 것은 없었습니다.
그 방은 생각보다 훨씬 바쁜 공간이었습니다.
하루에 전화 100통을 받고
또 100통을 걸어야 했습니다.
문제는 모두 그 방으로 들어왔고,
결정도 그 방에서 내려야 했습니다.
문을 닫으면 편안할 줄 알았는데
그 방은 전장의 참호처럼 긴장이 휘감습니다.
러시아 작가 '톨스토이'는 이런 이야기를 했다죠.
사람에게 필요한 땅은 결국
죽을 때 누울 한 평 남짓한 무덤뿐이라고.
끝없이 더 넓은 땅을 갖고 싶어 하지만
결국 마지막에 필요한 것은
그 작은 공간이라는 뜻일 겁니다.
그런데 우리는 왜 그렇게
자기 방을 가지려고 애쓰는 걸까요.
어릴 때는 자유를 위해 방을 꿈꾸고
어른이 되어서는 책임을 위해 방을 갖게 됩니다.
직장인에게 ‘내 방’은 하나의 로망입니다.
‘그 방’ 하나를 차지하기 위해
수많은 전투를 치르죠.
설사 아등바등 달려
마침내 그 방을 점령한다 해도,
또 더 큰 방으로 옮겨가기 위해
새로운 전투를 준비합니다.
하지만 살아보니 알게 되었습니다.
나는 예전보다
조금도 더 자유롭지 않았다는 것을.
어쩌면 우리는
방을 얻기 위해 달려온 것이 아니라
그 방 안에서 존재를 확인하고
감당해야 할 삶을 향해
걸어온 것인지도 모릅니다.
살아보니
나에게 가장 자유로웠던 공간은
라면 냄새가 새어 나갈까 문틈을 살피며
팝송을 듣고 시를 끄적이던
그 작은 방이었습니다.
Bản dịch bằng AI dành cho độc giả Việt Nam.
베트남 독자를 위한 AI번역입니다.
Năm tôi học cấp ba, lần đầu tiên tôi có một căn phòng của riêng mình.
Trước đó tôi vẫn ở chung phòng với em trai. Khi gia đình chuyển đến một ngôi nhà rộng hơn một chút, tôi được dùng riêng một căn phòng nhỏ.
Đó không phải là căn phòng lớn, cũng chẳng có gì đặc biệt. Nhưng lúc ấy, cảm giác của tôi giống như vừa có được cả một tòa thành.
Chỉ cần đóng cửa lại, bên trong đó tôi là chủ nhân.
Buổi tối, tôi xoay núm radio tìm các tần số và nghe nhạc pop.
Có lúc là nhạc của Eagles, có lúc là Billy Joel, và đôi khi là giọng hát của Frank Sinatra vang lên.
Tôi mở cuốn sổ ra, viết vài dòng giống như thơ, rồi lại ghi chép những suy nghĩ vẩn vơ, như thể mình hiểu hết mọi chuyện trên đời.
Tất nhiên, bố mẹ tôi chắc hẳn nghĩ rằng tôi đang chăm chỉ học bài.
Khi đói bụng, tôi lén xuống bếp nấu mì rồi mang vào phòng ăn.
Tôi còn nhớ mình đã nhiều lần nhìn lại khe cửa, sợ mùi mì bay ra ngoài.
Căn phòng ấy là một khoảng tự do nhỏ của tôi.
Khi đi nghĩa vụ quân sự, tôi cũng từng có một căn phòng nhỏ.
Khi đảm nhiệm công việc cán bộ tuyên huấn của trung đoàn, tôi được cấp một phòng nghỉ nhỏ.
Có ngày căn phòng ấy là nơi nghỉ ngơi ngọt ngào,
có ngày lại giống như một quán cà phê nhỏ thơm mùi cà phê,
và đôi khi nó trở thành một “quán ăn” tạm bợ với vài cốc mì ăn liền.
Bây giờ nghĩ lại, đó cũng là một không gian khá dễ chịu.
Nhưng khi xuất ngũ và vào làm ở một công ty quảng cáo, chỗ ngồi của tôi hoàn toàn khác.
Chỗ của nhân viên mới nằm ngay cạnh cửa ra vào.
Mọi người ra vào suốt cả ngày.
Mỗi lần cửa mở, tay nắm cửa còn suýt chạm vào phía sau đầu tôi.
Ngồi ở đó không thể ngủ gật.
Ngay cả giả vờ bận rộn cũng không dễ.
Vì người ta đi ngang qua và liếc nhìn vào.
Đó là chỗ ngồi bất tiện nhất,
nhưng có lẽ cũng là nơi dạy tôi nhiều điều nhất.
Theo thời gian, công việc ngày càng nhiều hơn.
Trách nhiệm cũng dần lớn lên.
Và rồi một ngày, tôi có một căn phòng với tấm bảng tên của mình.
Trong khi những người cùng tuổi vẫn ngồi ở những chiếc bàn chung, tôi lại có một căn phòng riêng khá đàng hoàng.
Thành thật mà nói, tôi khá tự hào.
Thậm chí có chút tự đắc.
Có một không gian mà mình có thể đóng cửa lại, hóa ra là một đặc quyền lớn hơn tôi nghĩ.
Tôi có thể chợp mắt một chút,
gọi điện cho bạn bè một cách thoải mái,
hay thong thả uống một tách cà phê.
Nhưng trên đời này không có gì là miễn phí.
Căn phòng ấy hóa ra lại là một nơi bận rộn hơn tôi tưởng.
Có những ngày tôi nhận tới một trăm cuộc điện thoại, và cũng gọi đi từng ấy cuộc.
Mọi vấn đề đều tìm đến căn phòng ấy,
và mọi quyết định cũng được đưa ra ở đó.
Tôi từng nghĩ rằng chỉ cần đóng cửa lại là có thể yên ổn.
Nhưng có lúc căn phòng ấy lại giống như một tòa thành cô độc.
Khi ấy tôi chợt nhớ đến một câu nói.
Nhà văn Nga Lev Tolstoy từng nói rằng
điều con người thực sự cần chỉ là mảnh đất đủ để nằm xuống khi chết — một khoảng nhỏ vừa bằng nấm mồ.
Con người cứ mãi muốn có thêm nhiều đất đai hơn,
nhưng cuối cùng thứ họ cần chỉ là một khoảng không gian nhỏ bé ấy.
Mỗi khi nghĩ đến điều đó, tôi lại tự hỏi:
Vì sao chúng ta cứ cố gắng để có một căn phòng của riêng mình?
Khi còn nhỏ, ta mơ về một căn phòng để được tự do.
Khi trưởng thành, ta có một căn phòng vì trách nhiệm.
Đối với người đi làm, “căn phòng riêng” luôn là một niềm mơ ước.
Nhưng khi đã sống đủ lâu, tôi mới hiểu.
Trong căn phòng mà tôi đã vất vả bao năm mới có được,
tôi không hề tự do hơn trước.
Có lẽ chúng ta không phải đã chạy theo để có được căn phòng ấy,
mà là đang bước đến cuộc sống mà mình phải gánh vác trong chính căn phòng đó.
Thế nhưng đôi khi tôi vẫn nghĩ.
Căn phòng nhỏ năm cấp ba,
nơi tôi nghe nhạc pop, viết vài dòng thơ
và lén ăn mì trong khi lo sợ mùi bay ra ngoài—
có lẽ đó mới là
không gian tự do nhất
trong cuộc đời tôi.